Bản chủ
Trang 353
Nội dung theo trang hỗ trợ định vị trong PDF chuẩn. Các thẻ đối chiếu, nếu có, chỉ là lớp citation đã duyệt và không thay thế bản chủ.
KINH BÁT NẠN 43
thời gian nào nên quán sát tướng nào, chớ nên buông lung.”
Bấy giờ Tôn giả Sa-môn Nhị Thập Ức sau khi nghe Đức Phật dạy, khéo
thọ lãnh, khéo ghi nhớ, từ chỗ ngồi đứng dậy, cúi đầu đảnh lễ chân Phật,
nhiễu quanh ba vòng rồi lui ra. Lãnh thọ ví dụ đàn cầm do Đức Phật dạy
rồi, Tôn giả sống một mình ở nơi xa vắng, tâm không buông lung, tu
hành tinh tấn. Tôn giả ấy sau khi sống một mình ở nơi xa vắng, tâm
không buông lung, tu hành tinh tấn, liền đạt được mục đích mà một thiện
nam tử cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín, lìa bỏ gia đình, sống không
gia đình, học đạo, duy chỉ mong thành tựu phạm hạnh vô thượng, ngay
trong đời này tự tri, tự giác, tự thân chứng ngộ, thành tựu và an trụ, biết
một cách như thật rằng: ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần
làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa’. Tôn giả Sa-môn Nhị Thập Ức
đã biết pháp rồi, v.v..., cho đến, chứng quả A-la-hán.
Lúc bấy giờ, sau khi đã chứng quả A-la-hán, Tôn giả Sa-môn Nhị Thập
Ức nghĩ rằng: “Nay đã đến thời, ta có nên đi đến chỗ Đức Thế Tôn trình
bày về sự chứng đắc cứu cánh trí của mình chăng?” Rồi thì Tôn giả Sa-
môn Nhị Thập Ức đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ rồi ngồi xuống một
bên mà bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, nếu có Tỳ-kheo chứng đắc Vô sở trước3, dứt trừ các lậu,
phạm hạnh đã vững, điều cần làm đã làm xong, đã đặt gánh nặng xuống,
hữu kết đã giải trừ4, tự thân đạt được thiện nghĩa5, bằng chánh trí mà
chứng đắc giải thốt, thì tức khắc vị ấy liền được an lạc trong sáu xứ6: an
lạc nơi vô dục, an lạc nơi viễn ly, an lạc nơi vô tránh, an lạc nơi ái tận, an
lạc nơi thủ tận, và an lạc nơi tâm không di động7.
3 Hán: Tỳ-kheo đắc Vô sở trước 比 丘 得 無 所 著; Pāli: bhikkhu arahaṃ, vị Tỳ-
kheo là A-la-hán.
4 Hán: hữu kết dĩ giải 有 結 已 解; Pāli: parikkhīṇabhavasaṃyojano (tận chư hữu
kết), đã diệt tận hồn tồn các phiền não trói buộc dẫn tới tái sinh.
5 Hán: tự đắc thiện nghĩa 自得善義, tự mình đã đạt mục đích; Pl:
anuppattasadattho (đãi đắc kỹ lợi), đã đạt đến mục đích tối cao, chí thiện.
6 Hán: lạc thử lục xứ 樂 此 六 處. Pāli: cha thānāni adhimutto, quyết định trong
sáu trường hợp.
7 Vô dục 無欲, viễn ly 遠離, vô tránh 無諍, ái tận 愛盡, thọ (=thủ) tận 受盡,
tâm bất di động 心不移動. Pāli: nekkhama, paviveka, abyāpajjh, taṇhākkhayā,