Bản chủ
Trang 339
Nội dung theo trang hỗ trợ định vị trong PDF chuẩn. Các thẻ đối chiếu, nếu có, chỉ là lớp citation đã duyệt và không thay thế bản chủ.
KINH THUYẾT VÔ THƯƠØNG 18
đời này, A-la-hán đã được an ổn khối lạc.”
Khi ấy, Đức Thế Tôn nói bài tụng rằng:
Vô trước7, đệ nhất lạc;
Đoạn dục, ái đã trừ,
Vĩnh viễn lìa ngã mạn,
Bứt tung màn lưới si8.
Người không bị lay chuyển,
Tâm chẳng bợn mảy trần,
Thế gian không đắm nhiễm,
Vô lậu, phạm hạnh thành,
Thấu triệt thân năm uẩn,
Cảnh giới bảy thiện pháp9,
Chốn đại hùng du hành,
Lìa xa mọi khủng bố.
Thành tựu báu thất giác10,
Học đủ ba môn học,
Thượng bằng hữu tôn xưng;
Chân chánh con của Phật;
Thành tựu mười chi đạo11.
7 Vô trước 無 著, dịch nghĩa từ A-la-hán. Pāli: sukhino vata arahanta, A-la-hán
thật sự an lạc.
8 Vô minh võng 無 明 網, Pāli: mohajāla.
9 Cảnh giới thất thiện pháp 境界七善法. Pāli: sattasadhammagocarā, sở hành là
bảy diệu (chánh) pháp. Sớ giải: saddhā (tín), hirī (tàm), ottappaṃ (quý),
bāhusaccaṃ (đa văn), āraddhavīriyatā (tinh tấn), upaṭṭhitassatitā (chánh niệm),
paññā (tuệ). Xem Tập dị 17 (tr.437a), “bảy diệu pháp: tín, tàm,quý, tinh tấn,
niệm, định, tuệ.”
10 Thất bảo giác 七覺寶. Pāli: sattaratanā, ở đây chỉ bảy giác chi: trạch pháp,
tinh tấn, hỷ, khinh an, niệm, định, xả.
11 Thập chi đạo 十 支 道, tức mười vô học chi; Tập dị 20 (Đại 26, tr.452c): 1.
Vô học chánh kiến; ...; 8. Vô học chánh định; 9. Vô học chánh giải thốt; 10.
Vô học chánh trí. Pāli: dasahaṅga.