Bản chủ
Trang 311
Nội dung theo trang hỗ trợ định vị trong PDF chuẩn. Các thẻ đối chiếu, nếu có, chỉ là lớp citation đã duyệt và không thay thế bản chủ.
kinh MẬT HỒN DỤ 889
đến chỗ Đức Thế Tôn mà hỏi nghĩa này, ‘Bạch Thế Tôn, điều này là thế
nào? Điều này có nghĩa gì?’ Nếu như Đức Thế Tôn có nói gì thì chúng
tôi khéo léo nhận lãnh rồi ghi nhớ. Nhưng, thưa Tôn giả Đại Ca-chiên-
diên, Ngài thường được Đức Thế Tôn và các đồng phạm hạnh có trí khen
ngợi. Tôn giả Đại Ca-chiên-diên có thể phân biệt rộng rãi ý nghĩa mà
Đức Thế Tôn vừa nói vắn tắt ấy. Ngưỡng mong Tôn giả Đại Ca-chiên-
diên thương xót [604b] mà giảng rộng cho”.
Tôn giả Đại Ca-chiên-diên bảo các Tỳ-kheo:
“Vậy, này Chư Hiền, xin hãy nghe tôi nói”.
“Này Chư Hiền, duyên nhãn và sắc mà sanh nhãn thức. Hòa hiệp ba sự
này là xúc. Do duyên xúc nên có cảm thọ. Có cảm thọ thì có tưởng. Có
tưởng thì có tư duy. Có tư duy thì có niệm. Có niệm thì có phân biệt12.
“Tỳ-kheo do suy niệm như vậy nên xuất gia học đạo, tu tập tư tưởng,
trong đó đối với pháp hiện tại, quá khứ và vị lai không ái, không lạc,
không đắm trước, không trụ; đó gọi là tận cùng biên tế khổ. Dục sử, nhuế
sử, hữu sử, mạn sử, vô minh sử, kiến sử, đấu tranh, thù nghịch, siểm nịnh,
lừa bịp, nói dối, nói hai lưỡi và vô lượng pháp ác bất thiện khác. Đó gọi
là tbiên tế khổ.
“Với tai, mũi, lưỡi, thân cũng vậy. Duyên ý và pháp mà phát sanh ý thức.
Ba sự cùng tụ hội liền có xúc. Do duyên xúc nên có cảm thọ. Có cảm thọ
thì có tưởng. Có tưởng thì có tư duy. Có tư duy thì có suy niệm. Có suy
niệm thì có phân biệt. Tỳ-kheo do niệm ấy mà xuất gia học đạo, tu tập tư
tưởng, trong đó đối với pháp hiện tại, quá khứ và vị lai không ái, không
lạc, không đắm trước, không trụ. Đó gọi là tận cùng biên tế khổ. Dục sử,
nhuế sử, hữu sử, mạn sử, vô minh sử, kiến sử, đấu tranh, thù nghịch, siểm
nịnh, lừa bịp, nói dối, nói hai lưỡi và vô lượng pháp ác bất thiện khác. Đó
gọi là biêntế khổ.
“Này Chư Hiền, Tỳ-kheo trừ con mắt, trừ sắc, trừ nhãn thức mà có xúc,
mà giả thiết có xúc, điều này không thể có. Nếu không giả thiết có xúc
mà giả thiết có cảm thọ, điều ấy kkhông xảy ra. Nếu không giả thiết cảm
thọ mà giả thiết có suy niệm rồi xuất gia học đạo, tu tập tư tưởng, điều
12 Nhược sở niệm tiện phân biệt若所念便分別. Pāli: yaṃ vitakketi, taṃ
papañceti, có tầm (niệm) cái gì, thì có hý luận cái đó.