Bản chủ
Trang 24
Nội dung theo trang hỗ trợ định vị trong PDF chuẩn. Các thẻ đối chiếu, nếu có, chỉ là lớp citation đã duyệt và không thay thế bản chủ.
KINH TRƯƠØNG THỌ VƯƠNG BỔN KHÔÛI574
sáng liền biến mất”.
Đức Thế Tôn nói:
“Này A-na-luật-đà, các ngươi không thấu triệt được tướng ấy; nghĩa là
tướng nhận được ánh sáng mà thấy sắc; giây lát, sắc được thấy kia và ánh
sáng liền biến mất.
“Này A-na-luật-đà, thuở xưa lúc Ta chưa đắc đạo giác ngộ vô thượng
chánh chân, cũng nhận được ánh sáng mà thấy sắc. Giây lát, sắc được
thấy kia và ánh sáng liền biến mất. A-na-luật-đà, Ta nghĩ: ‘Trong tâm Ta
có tai hoạn nào29 khiến cho Ta mất định mà con mắt diệt;30 con mắt diệt
rồi thì ánh sáng mà trước đó Ta nhận được để thấy sắc, ánh sáng để thấy
sắc ấy31 giây lát liền diệt?’ A-na-luật-đà, Ta hành tinh tấn, không biếng
nhác, thân tĩnh chỉ an trú, có chánh niệm chánh trí, không có ngu si, được
tĩnh chỉ nhất tâm. Này A-na-luật-đà, Ta nghĩ rằng: ‘Ta hành tinh tấn,
không biếng nhác, tĩnh chỉ nơi thân, có chánh niệm chánh trí, an trú,
không có si, được định tĩnh nhất tâm. Phải chăng trong đời không có gì32
để Ta thấy, để Ta biết chăng?’ Trong tâm Ta sanh tai hoạn về hồi nghi
ấy. Nhân tai hoạn của hồi nghi33 ấy nên mất định mà con mắt diệt. Con
mắt diệt rồi thì ánh sáng mà trước đó Ta nhận được [537a] để thấy sắc,
thuộc pháp xứ (dhammāyatana, tức đối tượng của ý thức chứ không phải của
nhãn thức. Cf. Đại thừa a-tì-đạt-ma tạp tập 1 (No 1606, tr. 696b20b), đây là cảnh
giới sở hành của các Giải thốt, Thắng xứ, Tĩnh lự. Không thấy các bộ phái luận
chi tiết loại sắc mà Đạithừa gọi là định quả sắc này. Sớ giải Pāli (MA iv. tr. 207)
nói đây là ánh sang của biến tác định (parikammobhāsaṃ) tức ánh sáng xuất hiện
trong giai đoạn chuẩn bị định (parikammasamādhinibattaṃ obhāsaṃ).. Sớ thích
nói, khi muốn thấy sắc hành (rūpagataṃ) bằng thiên nhãn, bấy giờ biến nhập và
an trú biến xứ định (bằng đệ tứ thiền) về ánh sáng (obhāsakasiṇaṃ pharitva
ṭhito).
29 Pl.: ko nu kho hetu ko paccayo, do nhân gì, duyên gì?
30 Pāli không đề cập yếu tố nhãn diệt: samādhimhi cute obhāso anataradhāyati,
định diệt, đồng thời ánh sáng biến mất.
31 Spứ giải Pāli: ánh sáng biến tác định biến mất, bằng thiên nhãn cũng không
thấy sắc (parikammobhāsopi antaradhāyi dibbacakkhunāpi rūpaṃ na passi).
32 Để bản: vô đạo 無 道. TNM: vô thị 無 是.
33 Pl.: vicikicchā, nghi.