Bản chủ
Trang 238
Nội dung theo trang hỗ trợ định vị trong PDF chuẩn. Các thẻ đối chiếu, nếu có, chỉ là lớp citation đã duyệt và không thay thế bản chủ.
KINH TAÊNG THƯƠÏNG TÂM810
“Lại nữa, Tỳ-kheo khi suy niệm về một tướng, tương ưng với thiện, nếu
sanh tâm niệm bất thiện, Tỳ-kheo đó quán rằng: “Suy niệm ác này có tai
họa6, suy niệm này là bất thiện, suy niệm này là ám, suy niệm này bị
người trí ghét, suy niệm này nếu đầy đủ thì không thể chứng đắc trí
thông7, không chứng đắc giác đạo, không chứng đắc Niết-bàn, vì nó
khiến sanh niệm ác bất thiện’. Vị Tỳ-kheo đó quán sự ác như vậy, tâm
niệm bất thiện sanh khởi liền bị trừ diệt. Niệm ác diệt rồi liền tâm thường
an trú, nội tâm tĩnh chỉ, chuyên nhất, đắc định.
“Như có người thiếu niên đẹp trai, khả ái, tắm gội sạch sẽ, mặc y phục
đẹp đẽ, lấy hương xoa khắp thân, cạo sửa râu tóc [588b] khiến rất tinh
khiết. Nếu lấy xác rắn, xác chó, hoặc xác người đã thâm xanh, sình
chướng, thối rữa, chảy nước dơ, đeo tròng vào cổ người ấy, người ấy liền
ghét sự dơ bẩn nên không hỷ, không lạc. Tỳ-kheo cũng vậy, Tỳ-kheo
quán rằng ‘Niệm ác này có tai họa, niệm này không thiện, niệm này là ác,
niệm này người trí ghét. Nếu đầy đủ niệm này thì không thể chứng đắc trí
thông, không chứng đắc giác đạo, không chứng đắc Niết-bàn vì nó khiến
sanh tâm niệm ác bất thiện’. Tỳ-kheo đã quán sự ác như vậy, tâm niệm
bất thiện đã sanh liền trừ diệt. Niệm ác diệt rồi, tâm thường an trú, nội
tâm tĩnh chỉ, chuyên nhất, đắc định. Nếu Tỳ-kheo muốn được tăng
thượng tâm, cần phải luôn luôn niệm tướng thứ hai này. Khi niệm về
tướng này thì tâm niệm bất thiện đã sanh liền bị trừ diệt. Niệm ác diệt rồi,
tâm thường an trú, nội tâm tĩnh chỉ, chuyên nhất, đắc định.
“Lại nữa, Tỳ-kheo khi suy niệm về một tướng tương ưng với thiện mà
sanh tâm niệm bất thiện, và khi quán niệm ác có tai họa mà lại sanh tâm
niệm bất thiện nữa, Tỳ-kheo đó không nên suy niệm về niệm này, vì nó
khiến sanh tâm niệm ác bất thiện. Tỳ-kheo đó không suy niệm về niệm
này nữa thì tâm niệm bất thiện đã sanh liền được trừ diệt. Niệm ác diệt
rồi, tâm thường an trụ, nội tâm tĩnh chỉ, chuyên nhất, đắc định.
“Như người có mắt, cảnh sắc nằm trong ánh sáng nhưng không muốn
nhìn. Người đó hoặc nhắm mắt, hoặc lánh thân đi. Ý các ngươi nghĩ sao,
6 Pāli: tesaṃ vitakkānaṃ ādīnavo uparikkhitabbo: itipime vitakkā akusalā... sāvajjā...
dukkhavipākā ti, cần quán sát sự tai hại của các tầm nay: tầm này là bất thiện, là
bị chỉ trích, là có kết quả khổ.
7 Thông 通, chỉ thắng trí, tức lục thông.