Bản chủ
Trang 214
Nội dung theo trang hỗ trợ định vị trong PDF chuẩn. Các thẻ đối chiếu, nếu có, chỉ là lớp citation đã duyệt và không thay thế bản chủ.
KINH ÑẠI NHÂN782
“Những gì là tám?”
“Có sắc, quán sắc, đó là giải thốt thứ nhất.
“Lại nữa, bên trong không sắc tưởng, bên ngồi quán sắc, đó là giải thốt
thứ hai.
“Lại nữa, với tịnh giải thốt, tự thân chứng ngộ, thành tựu an trụ, đó là
giải thốt thứ ba.
“Lại nữa, vượt qua tất cả sắc tưởng, diệt trừ hữu đối tưởng, không tư duy
các loại tưởng, vào Không vô biên xứ, thành tựu an trụ không vô biên xứ,
đó là giải thốt thứ tư.
“Lại nữa, vượt qua tất cả Không vô biên xứ, vào Thức vô biên xứ, thành
tựu an trụ thức vô biên xứ, đó là giải thốt thứ năm.
“Lại nữa, vượt qua tất cả Thức vô biên xứ, vào Vô sở hữu xứ, thành tựu
an trụ Vô sở hữu xứ, đó là giải thốt thứ sáu.
“Lại nữa, vượt qua tất cả Vô sở hữu xứ, vào Phi tưởng phi phi tưởng xứ,
thành tựu an trụ Phi tưởng phi phi tưởng xứ, đó là giải thốt thứ bảy.
“Lại nữa, vượt qua tất cả Phi tưởng phi phi tưởng xứ, tưởng thọ diệt giải
thốt, tự thân chứng ngộ, thành tựu an trụ, đó là giải thốt thứ tám.
[582b]“A-nan, Tỳ-kheo biết như thật về bảy trụ xứ của thức và hai xứ kia,
tâm không nhiễm trước, được giải thốt, thành tựu an trụ và với tám giải
thốt này, thuận và nghịch mà tự thân chứng ngộ, thành tựu an trụ và
cũng do tuệ quán mà diệt tận các lậu, đó là Tỳ-kheo A-la-hán, được gọi
Câu giải thốt35.”
Phật thuyết như vậy. Tôn giả A-nan và các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật
thuyết, hoan hỷ phụng hành.
q
35 Xem, kinh số 195.