Bản chủ
Trang 208
Nội dung theo trang hỗ trợ định vị trong PDF chuẩn. Các thẻ đối chiếu, nếu có, chỉ là lớp citation đã duyệt và không thay thế bản chủ.
KINH ÑẠI NHÂN776
“Thế Tôn là Pháp bản, Thế Tôn là Pháp chủ, pháp do Thế Tôn. Cúi xin
Thế Tôn nói điều đó. Con nay nghe rồi biết ý nghĩa rộng rãi”.
[580c] Phật bảo:
“A-nan, hãy lắng nghe kỹ. Hãy khéo hý luận kỹ! Ta sẽ phân biệt cho thầy
nghe ý nghĩa một cách rộng rãi”.
Tôn giả A-nan vâng lời, lắng nghe.
Phật nói:
“Hoặc có chủ trương với quan niệm ngã có sắc, có hạn lượng27; hoặc có
chủ trưong với quan niệm ngã không phải là có sắc, có hạn lượng mà là
không hạn lượng; hoặc có chủ trưong với quan niệm ngã không phải là
có sắc, có hạn lượng, cũng không phải là có sắc không hạn lượng, mà ngã
là không sắc, có hạn lượng; hoặc có chủ trưong với quan niệm ngã không
phải là có sắc, hạn lượng, cũng không phải là có sắc không hạn lượng,
cũng không phải là không có sắc, có hạn lượng, mà là không sắc không
hạn lượng.
“A-nan, trường hợp chủ trương với quan niệm ngã có sắc có hạn lượng,
người ấy chủ trương quan niệm ngã trong hiên tại là có sắc có hạn lượng,
khi thân hoại mạng chung người ấy nói nó cũng như vậy, thấy nó cũng
như vậy. Nếu khi ngã tách ngồi sắc nhỏ hẹp này, người ấy cũng suy
niệm như vậy, tư duy nó như vậy, như vậy.28 A-nan, đó là trường hợp chủ
trương với quan niệm ngã có sắc với lượng ít. Như vậy, có trường hợp
cho rằng ngã có sắc, có hạn lượng mà chấp trước.
“A-nan, trường hợp chủ trưong với quan niệm ngã không phải là có sắc
với lượng ít mà là có sắc không hạn lượng, người ấy trong hiện tại với vô
lượng sắc này mà quan niệm ngã được chủ trương, và khi thân hoại mạng
chung cũng nói nó như vậy, cũng thấy nó như vậy. Nếu khi ngã tách khỏi
vô lượng sắc, người ấy cũng suy niệm như vậy, tư duy nó như vậy, như
vậy. A-nan, đó là trường hợp chủ trưong với quan niệm ngã có sắc không
hạn lượng. Như vậy, có trường hợp cho rằng ngã có sắc, không hạn
27 Hán: thiểu sắc thi thần thi thiết 少色是神施設. Pl.: rūpī me paritto attā, tự ngã
của tôi là có sắc, có hạn lượng
28 Pl.: atathaṃ vā santaṃ tathattāya upakappessāmi, “nếu không như thế, tôi sẽ cố
gắng để như thế.” (Sớ giải: upakappessaāmi= sampādessāmi).