Bản chủ
Trang 121
Nội dung theo trang hỗ trợ định vị trong PDF chuẩn. Các thẻ đối chiếu, nếu có, chỉ là lớp citation đã duyệt và không thay thế bản chủ.
84. KINH VÔ THÍCH
Tôi nghe như vầy:
Một thời Đức Phật trú Tì-xá-li, ở tại ngôi nhà sàn, bên bờ ao Di hầu1.
Các đệ tử danh đức Trưởng lão Thượng tôn như các ngài Già-la, Ưu-bá-
giá-la, Hiền Thiện, Hiền Hoạn, Da-xá, Thượng Xứng2; các Tỳ-kheo danh
đức Trưởng lão Thượng tôn như vậy cũng tựu tại Tì-xá-li, ở tại ngôi nhà
sàn, bên ao Di hầu và đều ở bên cạnh nhà lá của Phật. Các người Lệ-xa3
ở thành Tì-xá-li nghe Đức Thế Tôn trụ tại Tì-xá-li, [560c] nơi ngôi nhà
sàn, bên bờ ao Di hầu, liền nghĩ rằng, “Chúng ta hãy phát đại như ý túc,
khởi oai đức của bậc vua chúa, lớn tiếng rao truyền rồi ra khỏi thành Tì-
xá-li, qua đến chỗ Phật cúng dường kính lễ”.
Lúc bấy giờ các đại đệ tử Danh đức Trưởng lão Thượng tôn nghe người
Lệ-xa thành Tì-xá-li phát đại như ý túc, khởi oai đức của bậc vua chúa,
lớn tiếng rao truyền rồi ra khỏi thành Tì-xá-li, qua đến chỗ Phật cúng
dường kính lễ, liền nghĩ rằng: ‘Âm thanh là gai nhọn đối với thiền’. Đức
Thế Tôn cũng nói rằng: ‘Âm thanh là gai nhọn đối với thiền’. Chúng ta
hãy qua rừng Ngưu giác Sa-la4, nơi ấy không náo loạn, sống viễn ly cô
độc, ẩn dật nơi thanh vắng mà tĩnh tọa”.
Rồi các đại đệ tử danh đức Trưởng lão Thượng tôn đi qua rừng Ngưu
giác Sa-la, nơi ấy không não loạn, sống viễn ly cô độc, ẩn dật nơi thanh
vắng mà tĩnh tọa để tư duy.
Bấy giờ, rất nhiều người Lệ-xa thành Tì-xá-li phát đại như ý túc, khởi oai
đức của bậc vua chúa, lớn tiếng rao truyền, rồi ra khỏi thành Tì-xá-li, qua
đến chỗ Phật cúng dường kính lễ. Hoặc có người Lệ-xa thành Tì-xá-li cúi
lạy chân Phật rồi ngồi xuống một bên, hoặc có người chào hỏi Phật rồi
ngồi xuống một bên, hoặc có người chắp tay hướng về Phật rồi ngồi
xuống một bên, hoặc có người ở xa thấy Phật rồi im lặng ngồi xuống.
1 Xem kinh 217. Pāli: Mahāvane kuṭāgārasālāyam.
2 Già-la 遮 羅, Ưu-bá-già-la 優簸遮羅, Hiền Thiện 賢善, Hiền Hoạn 賢患, Da-
xá 耶舍, Thượng Xứng 上稱. Pāli: Cāla, Upacāla, Kukkuṭa, Kaḷimbha, Nikaṭa,
Kaṭissa.
3 Lệ xế 麗 掣: Lệ-xa, hoặc Li-xa. Pāli: Licchavī.
4 Xem kinh 184.