Bản chủ
Trang 97
Nội dung theo trang hỗ trợ định vị trong PDF chuẩn. Các thẻ đối chiếu, nếu có, chỉ là lớp citation đã duyệt và không thay thế bản chủ.
KINH GIÀ LAM 105
ba, bốn phương, tứ duy, thượng, hạ, cùng khắp tất cả, tâm tương ứng
với từ, không thù, không ốn, không sân nhuế, không não hại, rất rộng
lớn, vô lượng, khéo tu tập, biến mãn tất cả thế gian, thành tựu và an trụ.
Cũng vậy, tâm bi, hỷ; tâm tương ứng với xả, không thù không ốn,
không sân nhuế, không não hại, rộng lớn vô lượng, khéo tu tập, biến
mãn tất cả thế gian, thành tựu và an trụ. Cũng vậy, này các người Già-
lam, Đa văn Thánh đệ tử tâm không thù, không ốn, không sân nhuế,
không não hại, liền được bốn trụ xứ an ổn9. Những gì là bốn?
“‘Nếu có đời này đời sau, có quả báo của nghiệp thiện và ác.10 Khi ta đã
được nghiệp tương ứng với chánh kiến này rồi, ta thọ trì đầy đủ, thân
hoại mạng chung chắc chắn sanh đến thiện xứ, cho đến sanh lên các cõi
trời’. Như vậy, này các người Già-lam, Đa văn Thánh đệ tử tâm không
kết, không ốn, không sân nhuế, không não hại; đó là trụ xứ an ổn thứ
nhất.
“Lại nữa, này các người Già-lam, ‘Nếu không có đời này và đời sau,
không có quả báo của nghiệp thiện và ác.”11 Như vậy, ta ở ngay trong đời
này không phải do cớ ấy mà bị người khác bài bác; nhưng lại được bậc
chánh trí khen ngợi, người tinh tấn, người có chánh kiến nói là có’. Như
vậy, này các người Già-lam, Đa văn Thánh đệ tử tâm không kết, không
ốn, không não hại, đó là được trụ xứ an ổn thứ hai.
“Lại nữa, này các người Già-lam, ‘Nếu có tạo tác gì, chắc chắn ta không
có tạo ác,12 ta không niệm ác. Vì sao vậy? Vì tự mình không tạo ác, khổ
do đâu mà sanh?’ Như vậy, này các người Già-lam, Đa văn Thánh đệ tử
tâm không kết, không ốn, không não hại; đó là trụ xứ an ổn thứ ba.
“Lại nữa, này các người Già-lam, ‘Nếu có tạo tác, chắc chắn ta không tạo
9 Hán: an ổn trú xứ 安穩住處: tô tức xứ. Pāli: assāsa, sự nghỉ ngơi (lấy lại hơi
thở quân bình), sự bình an.
10 Pl.: sace kho pana atthi paraloka, giả sử có thế giới khác (đời sau).
11 Pl.: sace kho pana natthi paraloko, natthi sukatadukatānaṃ kammānaṃ phalaṃ
vipāko, giả sử không có thế giới khác, không có quả dị thục của những nghiêp
thiện hay bất thiện.
12 Pl. : sace kho pana karoto karīyati pāpaṃ, na kho panāhaṃ kassaci pāpaṃ cetemi,
“giả sử có làm điều gì ác, nhưng ta không có ý ác đối với bất cứ ai.”