Bản chủ
Trang 41
Nội dung theo trang hỗ trợ định vị trong PDF chuẩn. Các thẻ đối chiếu, nếu có, chỉ là lớp citation đã duyệt và không thay thế bản chủ.
KINH THẾ GIAN PHƯỚC 45
nghe Như Lai hoặc đệ tử Như Lai sẽ từ nơi kia đến đây. Sau khi nghe,
liền sinh hoan hỷ, trong lòng rất phấn khởi. Châu-na, đó là loại phước
xuất thế gian thứ hai, có phước hựu lớn, có quả báo lớn, có danh dự
lớn, có công đức lớn.
“Lại nữa, Châu-na, có thiện gia nam tử hay thiện gia nữ tử có tín tâm,
nghe Như Lai hoặc đệ tử Như Lai sẽ từ nơi kia đến đây. Sau khi nghe,
liền hoan hỷ, trong lòng rất phấn khởi. Với tâm thanh tịnh, tự thân tới
thăm viếng, lễ kính, cúng dường. Sau khi cúng dường, thọ pháp ba tự quy,
đối với Phật, Pháp và Chúng Tỳ-kheo mà thọ giới cấm10. Châu-na, đó là
loại phước xuất thế gian thứ bảy, có phước hựu lớn, có quả báo lớn, có
danh dự lớn, có công đức lớn.
“Châu-na, thiện gia nam tử hay thiện gia nữ tử có tín tâm, nếu tạo được
bảy loại phước thế gian này và lại có bảy loại phước xuất thế gian, thì
phước của người kia không thế tính được có ngần nào phước, có ngần
nào kết quả của phước, có ngần nào phước báo. Chỉ có thể nói là không
thể hạn, không thể lượng, và không thể biết được con số đại phước.
“Châu-na, ví như từ châu Diêm-phù có năm con sông: Một là Hằng-già, hai là
Dao-vưu-na, ba là Xá-lao-phù, bốn là A-di-la-bà-đề và năm là Ma-xí11, đều
chảy về đại hải. Ở khoảng giữa của chúng, không thể tính được số nước của
bao nhiêu thăng, hộc. Chỉ có thể nói là số nước nhiều không thể hạn, không
thể lượng, và không thể biết được.
“Cũng vậy, Châu-na, thiện gia nam tử hay thiện gia nữ tử có tín tâm, nếu
tạo được bảy loại phước thế gian này và lại có bảy loại phước xuất thế
gian, thì phước của người kia không thế tính được có ngần nào phước, có
ngần nào kết quả của phước, có ngần nào phước báo. Chỉ có thể nói là
không thể hạn, không thể lượng, và không thể biết được con số đại
phước”.
Bấy giờ Thế Tôn nói bài tụng rằng:
Con sông Hằng-già
10 Đoạn này kể chung cả năm thứ: thăm viếng, lễ bái, cúng dường, thọ tam quy,
thọ ngũ giới.
11 Ngũ hà lưu 五河流: Hằng-già 恒伽 (Pāli: Gaṅgā), Dao-vưu-na 揺尤那
(Pāli: Yamunā), Xá-lao-phu 舍勞浮, (Pāli: Sarabhū), A-di-la-bà-đề
阿夷羅婆提(Pāli: Aciravatī), Ma-xí 摩企 (Pāli: Mahī).