Bản chủ
Trang 297
Nội dung theo trang hỗ trợ định vị trong PDF chuẩn. Các thẻ đối chiếu, nếu có, chỉ là lớp citation đã duyệt và không thay thế bản chủ.
40. KINH THỦ TRƯỞNG GIẢ (I)
Tôi nghe như vầy:
Môt thời Phật trú tại A-la-bệ Già-la1, trong Hòa lâm.
Bấy giờ Thủ Trưởng giả2, cùng với năm trăm Đại trưởng giả đi đến chỗ
Phật, cúi đầu đảnh lễ dưới chân Phật rồi ngồi sang một bên. Năm trăm
Trưởng giả cũng cúi đầu đảnh lễ dưới chân Phật rồi ngồi sang một bên.
Đức Thế Tôn bảo rằng:
“Này Thủ Trưởng giả, nay ông có một chúng rất đông này. Trưởng giả,
ông dùng phương pháp gì để nhiếp hộ3 đại chúng này?”
Bấy giờ Thủ Trưởng giả thưa rằng:
“Bạch Thế Tôn, có bốn nhiếp sự 4, như Đức Thế Tôn đã dạy. Một là
huệ thí, hai là ái ngôn, ba là lợi hành, bốn là đồng sự5. Bạch Thế Tôn,
con dùng bốn phương pháp ấy để nhiếp hộ đại chúng này, hoặc là
bằng bố thí, hoặc là bằng ái ngôn, hoặc là bằng lợi hành, hoặc là bằng
đồng sự.
Đức Thế Tôn khen rằng:
“Lành thay! Lành thay! Này Thủ Trưởng giả, ông có thể bằng như pháp
ấy mà nhiếp hộ đại chúng, lại bằng như môn ấy mà nhiếp hộ đại chúng,
lại bằng như nhân duyên mà nhiếp hóa đại chúng6. Này Thủ Trưởng giả,
nếu trong quá khứ có Sa-môn, Bà-la-môn nào, bằng như pháp mà nhiếp
1 A-la-tì Già-la 阿邏鞞伽邏. Pāli: trú ở Āḷavi, trong miếu Aggaḷava. Aggaḷava
là một ngôi miếu tại Āḷavi, Phật thường dừng chân tại đây, và cũng tại đây Phật
thiết lập một số điều khoản trong giới bổn Tỳ-kheo. Āḷavi là một thị trấn cách
Sāvatthi 30 do-tuần.
2 Thủ Trưởng giả 手長者. Pāli: Hattaka, cũng gọi là Āḷavaka, con trai của vua
xứ Āḷavi.
3 Hán: nhiếp. Pl.: saṅgaṇhāti: nhiếp thủ, nhiếp hộ, ái hộ.
4 Tứ sự nhiếp 四事攝. Pāli: cattāri saṅgahavatthūni: dānaṃ, peyyavajjaṃ,
atthacariyā, samānattatā.
5Huệ thí, ái ngôn, dĩ lợi, đẳng lợi 惠施愛言以利等利. Xem Tập dị 9 (No 1536,
tr.402c): bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự.
6 Hán: như pháp, như môn, như nhân duyên 如法如門如因緣.