Bản chủ
Trang 277
Nội dung theo trang hỗ trợ định vị trong PDF chuẩn. Các thẻ đối chiếu, nếu có, chỉ là lớp citation đã duyệt và không thay thế bản chủ.
37. KINH CHIÊM-BA
Tôi nghe như vầy:
Một thời Phật trú tại Chiêm-ba, ở bên hồ Hằng-già1.
Bấy giờ là ngày mười lăm trong tháng, là ngày Thế Tôn thuyết Biệt giải
thốt2, trải tọa ngồi trước chúng Tỳ-kheo. Khi Đức Thế Tôn ngồi xong,
liền nhập định và bằng tha tâm trí Ngài quan sát tâm đại chúng. Khi quan
sát tâm đại chúng rồi, cho đến lúc hết buổi đầu hôm, Ngài vẫn ngồi im
lặng.
Bấy giờ có một Tỳ-kheo3 từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch vai, sửa y chắp tay
hướng về Đức Phật thưa rằng:
“Bạch Thế Tôn, đã hết buổi đầu hôm, Phật và chúng Tỳ-kheo tập trung
ngồi đây đã lâu, mong Đức Thế Tôn nói thuyết Biệt giải thốt.”
Bấy giờ, Đức Thế Tôn im lặng không trả lời.
Thế rồi, cho đến phần giữa đêm, Đức Thế Tôn vẫn ngồi im lặng. Tỳ-kheo
kia lại lần nữa, từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch vai sửa y, chắp tay hướng về
Đức Phật và thưa rằng:
“Bạch Thế Tôn, buổi đầu hôm đã qua, phần giữa đêm cũng sắp hết; Phật
và chúng Tỳ-kheo tập trung ngồi đây đã lâu, mong Đức Thế Tôn nói
thuyết Biệt giải thốt.”
Đức Thế Tôn lại một lần nữa không trả lời.
Thế rồi, cho đến phần cuối đêm, Đức Thế Tôn vẫn ngồi im lặng. Tỳ-kheo
kia lại lần thứ ba từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch vai sửa y, chắp tay hướng
về Đức Thế Tôn mà thưa rằng:
1 Chiêm-ba, Hằng-già trì 瞻波恆伽池, Pāli: hồ sen Gaggarā ở Campā. Ngũ
Phần 28 tr.180c): Chiêm-ba quốc, Hằng thủy biên. Tứ Phần 36 (tr.824a):
Chiêm-ba quốc Già-già hà trắc. Nhưng, A. Viii. 20: trú tại Sāvatthi, trong giảng
đường của bà Migāramātu (Visakhā), khu vườn phía Đông.
2 Trong bản Hán: nguyệt thập ngũ nhật thuyết tùng giải thốt 月十五日說從 解
脫. Ba-la-đề-mộc-xoa (Pāṭimokkha), đây dịch là tùng giải thốt, phổ thông dịch
là biệt giải thốt, chỉ các loại giới mà Phật chế cho các chúng đệ tử. Bản Pāli:
tena samayena... tadahuposathe, nhân ngày bố-tát.
3 Các bản Hán khác đều nói Tôn giả A-nan. A. Vii.20 cũng vậy.