Bản chủ
Trang 259
Nội dung theo trang hỗ trợ định vị trong PDF chuẩn. Các thẻ đối chiếu, nếu có, chỉ là lớp citation đã duyệt và không thay thế bản chủ.
KINH THÒ GIẢ 281
tồn không chán nản. Nhưng Tỳ-kheo A-nan tự nhiên ngồi im lặng.’”34
Lại nữa, một thời sau khi Thế Tôn Bát-niết-bàn không bao lâu, Tôn giả
A-nan trú tại Kim cang35, trú ở thôn Kim cang. Bấy giờ Tôn giả A-nan
thuyết pháp cho vô lượng trăm ngàn đại chúng vây quanh trước sau. Bấy
giờ, Tôn giả Kim Cang Tử36 cũng đang ở trong đại chúng ấy. Tôn giả
Kim Cang Tử trong tâm suy nghĩ như vầy: ‘Tôn giả A-nan này vẫn còn
là bậc hữu học chưa ly dục sao? Ta nên như vậy, và bằng định ấy mà
quan sát tâm của Tôn giả A-nan’. Thế rồi Tôn giả Kim Cang Tử nhập
định, và bằng định như vậy mà quan sát tâm của Tôn giả A-nan. Tôn giả
Kim Cang Tử biết Tôn giả A-nan vẫn còn là hữu học nên chưa ly dục.
Bấy giờ Tôn giả ra khỏi tam muội, hướng về Tôn giả A-nan nói bài tụng
rằng:
Núi rừng vắng tư duy,
Khiến tâm trụ Niết-bàn,
Cù-đàm Thiền không loạn,
Sẽ sớm chứng tịch tĩnh.37
Bấy giờ Tôn giả A-nan vâng theo lời của Tôn giả Kim Cang Tử, rời bỏ
chỗ đông mà sống một mình, tinh tấn, không tán loạn. Tôn giả rời bỏ chỗ
đông, sống một mình, tinh tấn, không tán loạn, để đạt mục đích vì đó mà
một thiện nam tử đã cạo bỏ râu tóc, khốc áo ca-sa, chí tín, lìa bỏ gia
đình, sống không gia đình, xuất gia học đạo; chỉ vì mục đích là thành tựu
phạm hạnh vô thượng, ngay trong đời hiện tại, tự tri tự giác, tự chứng
nghiệm, thành tựu và an trụ, biết như thật rằng: ‘Sự sanh đã đứt, phạm
hạnh đã vững, việc cần làm đã xong, không còn [475a] tái sanh nữa’.
Tôn giả A-nan biết pháp rồi, cho đến, chứng đắc A-la-hán38. Tôn giả A-
nan nói vầy:
34 Cf. No.1(2) kinh “Du Hành”.
35 Kim cang 金 剛, Pāli có lẽ là Vajjī (tên dòng họ cũng là tên nước; Hán: Bạt-
kỳ) được đọc là Vajira (kim cang).
36 Kim Cang Tử, Pāli, có lẽ chính xác là Vajjiputta (thay vì Vajiraputta), sự kiện
được đề cập trong Thag. kệ 119. Cf. Tứ phần 54 (tr. 967a12): Tỳ kheo Bạt-xà
Tử 跋闍子比丘.
37 Bài kệ Pāli, xem Thag. 119; Tứ phần 54 (tr. 967a20).
38 Trong bản: A-la-ha 阿 羅 訶.