Bản chủ
Trang 255
Nội dung theo trang hỗ trợ định vị trong PDF chuẩn. Các thẻ đối chiếu, nếu có, chỉ là lớp citation đã duyệt và không thay thế bản chủ.
KINH THÒ GIẢ 277
gầm gừ rồi tự ngắm thân thể; tự ngắm thân thể rồi nhìn khắp bốn
hướng, xoay nhìn khắp bốn hướng rồi liền rống lên ba lần, rống ba lần
rồi liền đi tìm ăn. Cách thức nằm của sư tử chúa là như vậy.”
Tôn giả A-nan bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, cách thức nằm của sư tử, chúa tể của lồi thú, là như vậy.
Còn cách nằm của Tỳ-kheo phải như thế nào?”
Đức Thế Tôn đáp rằng:
“Này A-nan, nếu Tỳ-kheo sống nơi thôn ấp, khi đêm đã qua, vào lúc
sáng sớm, khốc y ôm bát, đi vào thôn khất thực, khéo hộ trì thân thể,
nhiếp thủ các căn, trụ với chánh niệm. Vị ấy từ thôn ấp khất thực xong,
xếp y cất bát, rửa sạch tay chân, vắt Ni-sư-đàn lên vai đi đến chỗ rừng
vắng, hoặc đến dưới bóng cây, hoặc vào trong nhà trống, hoặc kinh
hành, hoặc tọa thiền, tịnh trừ những pháp chướng ngại trong tâm. Ban
ngày hoặc kinh hành hoặc tọa thiền để tịnh trừ những pháp chướng
ngại trong tâm rồi. Lại vào đầu hôm hoặc kinh hành, hoặc tọa thiền, để
tịnh trừ những pháp chướng ngại trong tâm. Sau khi hoặc kinh hành,
hoặc tọa thiền để tịnh trừ những pháp chướng ngại trong tâm vào lúc
đầu hôm rồi, đến nữa đêm đi vào tĩnh thất để nằm, xếp làm tư uất-đa-
la-tăng28, [474a] trải lên giường, gấp y tăng-già-lê làm gối, nằm xuống
phía hông bên phải, hai chân xếp chồng lên nhau, buộc ý vào ấn tượng
ánh sáng29, chánh niệm, chánh trí, hằng hướng tâm niệm đến ý tưởng
sẽ trỗi dậy. Sau đêm ấy liền nhanh chóng ngồi dậy, hoăc kinh hành,
hoặc tọa thiền, để tịnh trừ những pháp chướng ngại trong tâm. Như thế
là pháp nằm như sư tử của Tỳ-kheo.”
Tôn giả A-nan bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, cách nằm như sư tử của Tỳ-kheo là như vậy.”
Tôn giả A-nan lại nói như vầy:
“Này Chư Hiền, Đức Thế Tôn dạy tôi cách nằm giống như sư tử; từ đó
trở đi chưa hề có lần nào tôi nằm nghiêng về bên hông trái.” Tôn giả
28 Ưu-đa-la-tăng 優哆邏僧: Uất-đa-la-tăng. Pāli: uttarāsaṅga, dịch là thượng y,
áo khốc phần trên thân thể. Thường thì nói là “trải tăng-già-lê bốn lớp”; Pāli:
catugguṇam saṅghāṭiṃ paññāpetvā.
29 Minh tưởng 明相, suy tưởng về ánh sáng.