Bản chủ
Trang 232
Nội dung theo trang hỗ trợ định vị trong PDF chuẩn. Các thẻ đối chiếu, nếu có, chỉ là lớp citation đã duyệt và không thay thế bản chủ.
KINH PHÂN BIỆT THÁNH ÑẾ262
Này Chư Hiền, vì lẽ ấy mà nói ốn tắng hội là khổ.
“Này Chư Hiền, nói ái biệt ly khổ13; nói thế là vì lẽ gì? Này Chư Hiền, ái
biệt ly khổ, đó là chúng sanh thật có sáu xứ bên trong: mắt, tai, mũi, lưỡi,
thân và ý xứ vốn khả ái, nhưng chúng phân tán thành khác biệt, không
tương ứng, biệt ly không tụ hội, không gắn bó, không tập hợp, không hòa
hợp, đó là khổ. Cũng vậy, các ngoại xứ: xúc, thọ, tưởng, tư, ái, cũng lại
như vậy. Này Chư Hiền, chúng sanh quả thực có sáu giới: đất, nước, lửa,
gió, hư không và thức giới vốn khả ái nhưng chúng phân tán thành khác
biệt, không tương ứng, không gắn bó, không hòa hợp, không tập hợp, đó
là khổ. Như vậy gọi là [468b] ái biệt ly. Này Chư Hiền, ái biệt ly là khổ
nghĩa là chúng sanh khi xa cách nhau, thân nhiếp thọ khổ, nhiếp thọ tồn
diện; cảm thọ, cảm thọ tồn diện. Tâm nhiếp thọ khổ, nhiếp thọ tồn diện;
cảm thọ, cảm thọ tồn diện. Thân tâm nhiếp thọ khổ, nhiếp thọ tồn diện;
cảm thọ, cảm thọ tồn diện. Này Chư Hiền, vì lẽ ấy mà nói ái biệt ly khổ
là khổ.
“Này Chư Hiền, nói sở cầu không toại là khổ14; nói thế là vì lẽ gì? Này
Chư Hiền, nghĩa là chúng sanh lệ thuộc vào sanh pháp15, không thể lìa xa
sanh pháp, nhưng lại ước muốn rằng: ‘Mong tôi không sanh ra’, điều ấy
quả thật không thể muốn mà được. Với sự già, sự chết, sự ưu sầu, buồn
lo mà ước muốn rằng: ‘Mong tôi không có buồn lo’. Điều ấy không thể
muốn mà được. Này Chư Hiền chúng sanh nào thấy quả thật sanh là khổ,
không đáng vui, không đáng yêu, không đáng nghĩ nhớ, người ấy nghĩ
thế này: ‘Nếu sự sanh của ta khổ, không đáng vui, không đáng yêu,
không đáng nghĩ nhớ, mong sao chuyển đổi nó thành đáng yêu, đáng
nghĩ nhớ’. Điều đó không thể muốn mà được. Này Chư Hiền, chúng sanh
nào thấy quả thật sanh là lạc đáng yêu, đáng nghĩ nhớ, người ấy nghĩ như
vầy: ‘Nếu sự sanh của ta là lạc, đáng yêu, đáng nghĩ nhớ, mong sao nó là
pháp thường hằng, vĩnh cữu và không biến dịch’. Điều ấy không thể
muốn mà được.
“Này Chư Hiền, chúng sanh nào quả thật sanh tư tưởng16 mà không đáng
13Bản Pāli không đề cập.
14 Pāli: picchaṃ na labhati.
15 Hán: chúng sanh sanh pháp 眾生生法. Pāli: jātidhammānaṃ sattānaṃ (...).
16 Hán: thật sanh tư tưởng 實生思想.