Bản chủ
Trang 204
Nội dung theo trang hỗ trợ định vị trong PDF chuẩn. Các thẻ đối chiếu, nếu có, chỉ là lớp citation đã duyệt và không thay thế bản chủ.
KINH ÑẠI CÂU-HI-LA220
Tôn giả Xá-lợi-phất lại hỏi rằng:
“Hiền giả Đại Câu-hi-la, lại còn có điều kiện nào mà nhân điều kiện đó
Tỳ-kheo thành tựu kiến, được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại
tịnh, và thể nhập chánh pháp chăng?
“Có vậy, thưa Tôn giả Xá-lợi-phất. Đó là có Tỳ-kheo biết thiện và biết
căn của thiện.
“Thế nào là biết thiện? Diệu hành của thân là thiện. Diệu hành của ý và
khẩu là thiện. Đó là biết thiện.
“Thế nào là biết căn của thiện? Vô tham là căn của thiện, vô nhuế và vô
si là căn của thiện. Đó là biết căn của thiện.
“Này Tôn giả Xá-lợi-phất. Nếu có Tỳ-kheo biết thiện và biết thiện căn
như vậy, đó là Tỳ-kheo đã thành tựu kiến, được chánh kiến, đối với pháp
được bất hoại tịnh, và thể nhập chánh pháp.
Tôn giả Xá-lợi-phất nghe rồi khen rằng:
“Lành thay, lành thay, Hiền giả Đại Câu-hi-la!”
Tôn giả Xá-lợi-phất khen ngợi rồi hoan hỷ phụng hành.
Tôn giả Xá-lợi-phất lại hỏi rằng:
“Hiền giả Đại Câu-hi-la, lại còn có điều nào mà nhân điều đó Tỳ-kheo
thành tựu kiến, được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh, và thể
nhập chánh pháp chăng?”
Tôn giả Đại Câu-hi-la trả lời rằng:
“Có, thưa Tôn giả Xá-lợi-phất. Nghĩa là Tỳ-kheo biết như thật về thức
ăn, biết như thật về tập của thức ăn, về diệt của thức ăn và đạo của
thức ăn.3
“Thế nào là biết như thật về thức ăn? Có bốn loại thức ăn: Một là đồn
thực, thô và tế4; hai là xúc thực5; ba là ý tư thực6; bốn là thức thực7. Đó là
3 Thực 食. Pāli: āhāra.
4 Đồn thực thô tế 摶食粗細, hay đoạn thực, thực phẩm vật chất. Pāli:
kabaliṅkāro āhāro oḷāriko vā sukkumo.
5 Nguyên-Hán: canh lạc thực 更樂食, thức ăn là sự xúc chạm, chỉ sự tiếp xúc
giữa căn và cảnh. Pāli: phasso āhāro.
6 Ý tư thực 意思食, hay hý luận thực, thức ăn là ý chí hy vọng. Pāli:
manosañcetanā-āhāro.