Bản chủ
Trang 200
Nội dung theo trang hỗ trợ định vị trong PDF chuẩn. Các thẻ đối chiếu, nếu có, chỉ là lớp citation đã duyệt và không thay thế bản chủ.
KINH GIAÙO HOÙA BEÄNH215
nói chưa quyết định giá cả, cùng nhau tranh tụng lớn. Rồi dắt nhau đến
pháp đình15 nước Xá-vệ để phán quyết về việc này. Bấy giờ vị pháp
quan16 nước Xá-vệ bảo Thắng Lâm Đồng tử rằng:
“– Này Đồng tử, thế là ngươi đã quyết định giá cả rồi, chỉ còn việc nhận
tiền nữa thôi.
“Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, con liền vào nước Xá-vệ, trở về nhà lấy tiền,
dùng voi ngựa và xe cộ để chuyên chở các kho lẫm đem đến, đã xuất ra
tới ức ức để trải khắp mặt đất, nhưng còn vài chỗ chưa khắp đến. Bạch
Tôn giả Xá-lợi-phất, con nghĩ như vầy: Nên xuất ở kho nào nữa để đem
đến trải khắp chỗ dư này, không thừa cũng không thiếu? Bấy giờ Thắng
Lâm Đồng tử liền bảo con rằng:
“– Này Trưởng giả, nếu có ăn năn về số tiền này thì hãy tự mang trở về,
khu vườn trả lại cho tôi.
“Con bảo với Đồng tử rằng:
“– Quả thật tôi không có ăn năn; mà tôi còn suy nghĩ xem nên lấy ở kho
nào nữa để mang trải khắp chỗ dư này không thừa cũng không thiếu.
“Bấy giờ Thắng Lâm Đồng tử liền suy nghĩ như vầy: ‘Đức Thế Tôn hẳn
là một bậc cao cả, có đức hựu lớn. Pháp và Đại chúng Tỳ-kheo hẳn cũng
là rất cao cả, có đức hựu lớn. Vì sao thế? Vì có vậy mới làm cho Trưởng
giả thi thiết sự cúng dường vĩ đại, coi rẻ của cải đến thế. Nay ta có lẽ xây
cất nhà cổng ngay nơi này để cúng dường Đức Phật và Đại chúng Tỳ-
kheo’. Rồi Thắng Lâm Đồng tử liền bảo vói con rằng:
“– Này Trưởng giả, hãy thôi đi, đừng xuất tiền để trả khoảng đất còn lại
nữa. Vì ngay chỗ này tôi sẽ cất cất nhà cổng cúng dường Đức Phật và đại
chúng Tỳ-kheo.
“Bạch Tôn giả Xá-lợi-phất, vì lòng từ mẫn nên con đồng ý để lại chỗ ấy
cho Thắng Lâm Đồng tử.
“Bạch Tôn giả Xá-lợi-phất, rồi ngay trong mùa hạ ấy, con cho xây mười
sáu dãy nhà lớn17, sáu mươi câu-hi18. Tôn giả Xá-lợi-phất giúp đỡ con
15 Hán: đại quyết đoán xứ 大決斷處.
16 Hán: đại quyết đoán nhân 大 決 斷 人. Biện lý đại thần.
17 Hán: đại ốc 大 屋, tức Pāli: vihāra (tinh xá).
18 Hán: câu-hi 拘 絺, tức Pāli: koṭṭhaka, chỉ nhà kho, phòng hay phòng kín.