Bản chủ
Trang 195
Nội dung theo trang hỗ trợ định vị trong PDF chuẩn. Các thẻ đối chiếu, nếu có, chỉ là lớp citation đã duyệt và không thay thế bản chủ.
KINH GIÁO HÓA BỆNH 210
sống không gia đình, xuất gia học đạo, chứng quả Vô thượng Chánh đẳng
chánh giác. Vị ấy được gọi là Phật.
“Con lại hỏi rằng:
“– Trưởng giả vừa nói Chúng6. Vậy thế nào là đại chúng?
“Bấy giờ vị Trưởng giả kia trả lời con rằng:
“– Còn có rất nhiều vị, có dòng họ và tông tộc khác nhau, cạo bỏ râu tóc,
khốc y ca-sa, với lòng tin chí thiết, lìa bỏ gia đình, sống không gia đình,
để theo Phật đạo. Đó [460a] gọi là Chúng. Đức Phật và chúng ấy, tôi sắp
thỉnh đến.
“Bạch Tôn giả Xá-lợi-phất, con lại hỏi vị Trưởng giả ấy rằng:
“– Đức Thế Tôn bây giờ đang ở nơi nào? Tôi muốn đi đến thăm.
“Bấy giờ vị Trưởng giả kia trả lời con rằng:
“– Đức Thế Tôn hiện đang ở thành Vương Xá, trong rừng Trúc, vườn
Ca-lan-đa. Ông có muốn đến đó thì tùy ý.
“Bạch Tôn giả Xá-lợi-phất, lúc ấy con nghĩ thế này: ‘Mong cho mau sáng
để nhanh chóng đi đến thăm Phật.’ Bạch Tôn giả Xá-lợi-phất, bấy giờ với
tâm chí thành, con muốn đến thăm Phật, nên lúc đang đêm ấy mà tưởng
đã sáng rồi, liền từ nhà vị Trưởng giả kia ra đi, đến trạm dừng nơi cổng
thành7. Bấy giờ tại trạm dừng nơi cổng thành có hai người lính gác, một
người gác đầu hôm thì cho hành khách bên ngồi vào thành, không làm
trở ngại gì, một người gác cuối đêm thì cho hành khách ở trong thành đi
ra cũng không làm trở ngại gì. Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, con lại nghĩ thế
này: ‘Đêm hãy còn chưa sáng lắm. Vì sao vậy? Vì ở tại cổng thành có hai
người lính gác; một người gác đầu hôm thì cho hành khách bên ngồi vào
thành, không làm trở ngại gì; một người gác cuối đêm thì cho hành khách
ở trong thành đi ra cũng không làm trở ngại gì’. Thưa Tôn giả Xá-lợi-
phất, con vượt qua trạm dừng chân ở cửa thành để đi ra bên ngồi không
lâu, ánh sáng biến mất và trời tối hẳn lại. Bạch Tôn giả Xá-lợi-phất, tồn
thân lông dựng ngược, con liền sợ hãi, mong sao đừng có người nào hay
lồi phi nhân đến xúc nhiễu con. Bấy giờ, tại trại dừng chân ở cửa thành
6 Chúng 眾, tức tăng(-già), Pāli: saṅgha.
7 Hán: Thành tức môn 城息門; Pāli: sivakadvāra.