Chế độ nghiên cứu

Bản đọc Đối chiếu

Đối chiếu học thuật

Kinh Trung A Hàm I · trang 159

Quay lại bản đọc

Bản chủ

Trang 159

Nội dung theo trang hỗ trợ định vị trong PDF chuẩn. Các thẻ đối chiếu, nếu có, chỉ là lớp citation đã duyệt và không thay thế bản chủ.

KINH TRÍ 174 Đức Thế Tôn hỏi rằng: “Này Xá-lợi-phất, nếu các đồng phạm hạnh đến hỏi thầy thế này: ‘Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, bội xả11 thế nào để tự tuyên bố là chứng đắc trí, biết như thật, rằng ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa?’” Tôn giả Xá-lợi-phất thưa rằng: “Bạch Thế Tôn, nếu có đồng phạm hạnh đến hỏi con thế này: ‘Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, bội xả thế nào để tự tuyên bố là chứng đắc trí, biết như thật, rằng ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa?’ Con nghe như vậy sẽ trả lời thế này: ‘Này Chư Hiền, tôi do bội xả bên trong12 mà diệt tận các ái13, không kinh hãi, không sợ sệt, không nghi, không hoặc, thực hành sự thủ hộ như vậy. Thủ hộ như thế rồi không sanh ra lậu bất thiện14’. Bạch Thế Tôn, nếu các đồng phạm hạnh hỏi con như thế, con sẽ trả lời như vậy.” Đức Thế Tôn khen rằng: “Hay thay! Hay thay! Xá-lợi-phất, nếu các đồng phạm hạnh đến hỏi thầy như thế, thầy nên trả lời như thế. Vì sao thế? Vì nói như vậy nên biết đó là nghĩa”. Đức Phật bảo rằng: “Này Xá-lợi-phất, lời nói này còn có ý nghĩa nữa để lời nói ấy có thể trả lời vắn tắt. ‘Đối với những kết sử mà Sa-môn nói đến15, những kết sử ấy không tồn tại nơi ta, thực hành sự thủ hộ như vậy; thủ hộ như thế rồi không còn sanh ra lậu bất thiện nữa’. Này Xá-lợi-phất, đó gọi là còn có ý nghĩa nữa để lời nói ấy có thể trả lời vắn tắt”. Đức Thế Tôn nói như vậy rồi, liền từ chỗ ngồi đứng dậy đi vào tịnh thất tĩnh tọa. Sau khi Đức Thế Tôn đi vào tịnh thất chẳng bao lâu, Tôn giả Xá-lợi-phất bảo các Tỳ-kheo rằng: 11Hán: bối nhi bất hướng 背而不向, cũng nói là bối xả, đậy chỉ (tám) giải thốt, mà diệt thọ tưởng định là cao nhất. Pāli: vimokkhā. 12 Hán: nội bối nhi bất hướng 內背而不向. Pāli: ajjhattaṃ vimokkhā. 13 Pāli: sabbupādānakkhayā, tất cả chấp thủ diệt tận. 14 Pāli: yathā sataṃ viharantaṃ āsavā ānussavanti, do sống chánh niệm như thế các lậu không còn rỉ chảy. 15 Pāli: ye āsavā samanena vuttā, những lậu hoặc mà Sa-môn nói đến.

Lớp đối chiếu

Chưa có bản chứng đã công bố

Không có dữ liệu nháp, nguồn thô hoặc kết quả tự động nào được thay thế cho quyết định biên tập.