Bản chủ
Trang 14
Nội dung theo trang hỗ trợ định vị trong PDF chuẩn. Các thẻ đối chiếu, nếu có, chỉ là lớp citation đã duyệt và không thay thế bản chủ.
KINH TRUÙ ÑAÏC THOÏ13
“Lại nữa, khi vị Thánh đệ tử lìa hỷ dục, an trụ xả vô cầu11với chánh niệm
chánh trí, thân cảm giác lạc; điều mà Thánh nói12 là an trú lạc có xả, và
niệm,13 thành tựu an trụ Tam thiền. Lúc đó Thánh đệ tử được gọi là nở nụ
như mỏ chim, cũng như cây Trú độ ở Tam Thập Tam Thiên nở nụ như
mỏ chim.
“Lại nữa, khi Thánh đệ tử diệt lạc, diệt khổ; ưu và hỷ từ trước cũng đã
diệt, không khổ không lạc, xả và niệm thanh tịnh14 thành tựu an trụ Tứ
thiền. Vị Thánh đệ tử lúc đó được gọi là nở hoa như cái bát vậy, cũng
như cây Trú độ ở Tam Thập Tam Thiên nở hoa như cái bát.
“Lại nữa, khi Thánh đệ tử các lậu đã được diệt tận, tâm giải thoát, tuệ
giải thoát, ngay trong đời hiện tại này mà tự tri, tự giác, tự tác chứng,
thành tựu an trụ; vị ấy biết một cách như thật rằng ‘Sanh đã hết, phạm
hạnh đã vững, điều cần làm đã xong, không còn tái sanh nữa15’. Lúc đó vị
Thánh đệ tử được gọi là hoa nở tròn trịa, cũng giống như cây Trú độ ở
Tam Thập Tam Thiên nở hoa tròn trịa.
Đó là vị Tỳ-kheo lậu tận A-la-hán được Tam Thập Tam Thiên tập hội tại
chánh điện Thiện pháp hỏi han khen ngợi rằng: ‘Vị Thánh đệ tử tôn quý
đó, ở tại thôn [422c] ấp kia, đã cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín, lìa
bỏ gia đình, sống không gia đình, học đạo, các lậu đã hết, tâm giải thoát,
tuệ giải thoát, ngay trong đời hiện tại này tự tri, tự giác, tự tác chứng,
11 Hán: ly ư hỷ dục, xả, vô cầu du 離於喜欲捨無求遊. Pāli: pītiyā ca virāgā ca
uppekkako ca viharati: vị ấy sống (an trú) trong trạng thái xả, không còn hỷ.
12 Thánh sở thuyết Thánh sở xả 聖所說聖所捨. No 1537 (tr. 484b): Thánh nói
là cần phải xả, tức là xả lạc được cảm giác bởi thân. Sớ giải Pāli: yaṃ taṃ ariyā
ācikkhanti… kinti? upekkhako satimā sukhaviharati, điều mà các Thánh nói, đó là
gì? an trú lạc có xả và (chánh) niệm.
13 Hán: xả niệm lạc trụ không 捨念樂住空, nên đọc đúng: (…) lạc trụ thất
樂住室, Pl. sukhaviharati. Từ tương đương Pl. viharati (vihāra, vihārī): an trú, cư
ngụ. Danh từ của nó, Hán thường dịch là trụ; nhưng cũng có bản hán hiểu là
đường hay thất (cái nhà) như (bốn) Phạm đường hay Phạm thất mà Pāli tương
đương là brahma-vihāra, tức bốn Phạm trụ. Vây, owr đay hán dịch: lạc tru thất,
chính xác cần hiểu là lạc trú hay an trú lạc.
14 Hán: xả niệm thanh tịnh 捨 念 淸 淨. No 1537 (tr.485a): “Lúc bấy giờ, hoặc
xả, hoặc niệm, thảy đều được thanh tịnh”. Pāli: upekkāsatiparisuddhiṃ.
15 Hán: bất cánh thọ hữu 不更受有.