Bản chủ
Trang 127
Nội dung theo trang hỗ trợ định vị trong PDF chuẩn. Các thẻ đối chiếu, nếu có, chỉ là lớp citation đã duyệt và không thay thế bản chủ.
20. KINH BA-LA-LAO 1
Tôi nghe như vầy:
Một thời Phật trú ở Câu-lệ-sấu2, cùng với đại chúng Tỳ-kheo, đi đến
Bắc thôn3, trú ở phía Bắc của thôn trong rừng Thi-nhiếp-hòa4.
Bấy giờ Ba-la-lao Già-di-ni5 nghe rằng: “Sa-môn Cù-đàm thuộc dòng
họ Thích, đã từ bỏ dòng họ Thích, [445b] xuất gia học đạo, đang trú tại
Câu-lệ-sấu, cùng đại chúng Tỳ-kheo, đi đến Bắc thôn, trú ở phía Bắc
của thôn trong rừng Thi-nhiếp-hòa. Vị Sa-môn Cù-đàm ấy có tiếng tăm
lớn, truyền khắp mười phương rằng: ‘Sa-môn Cù-đàm là Như Lai, Vô
Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian
Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế
Tôn. Vị ấy ở trong thế gian này giữa Chư Thiên, Ma, Phạm, Sa-môn,
Bà-la-môn, từ lồi người cho đến lồi trời, tự tri tự giác, tự tác chứng,
thành tựu và an trụ. Pháp mà vị ấy thuyết, khoảng đầu thiện, khoảng
giữa thiện, cứu cánh cũng thiện, có nghĩa, có văn, hiển hiện phạm hạnh
thanh tịnh trọn đủ’. Nếu gặp được Đức Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng
Chánh Giác, để tôn trọng, lễ bái cúng dường, thừa sự, thì sẽ được nhiều
thiện lợi”. Người kia suy nghĩ rằng: “Ta nên đến yết kiến Sa-môn Cù-
đàm để lễ bái, cúng dường”.
Ba-la-lao Già-di-ni nghe vậy rồi, ra khỏi Bắc thôn, đi về hướng Bắc,
đến rừng Thi-nhiếp-hòa, muốn yết kiết Thế Tôn để lễ bái cúng dường.
Ba-la-lao Già-di-ni từ xa trông thấy Thế Tôn ở trong rừng cây, đoan
nghiêm đẹp đẽ, như mặt trăng giữa đám tinh tú sáng ngời chói lọi, rực
1 Tương đương Pāli: S.42.13. Pāṭali-sutta.
2 Câu-lệ-sấu 拘麗瘦. Pāli: Koliyesu, giữa những người Koliyā, một bộ tộc theo
thể chế cộng hòa trong thời Phật, cư ngụ tại làng Rāmagama trên bờ sông Hằng,
và phần khác sống tại Devadaha, lãnh thổ của họ và của giòng Sakya được chia
đôi bằng sông Rohinin và một cuộc chiến đẫm máu sắp xảy ra, nếu không có sự
can thiệp của Đức Phật.
3 Bắc thôn 北村. Pāli: Uttara, tên thôn ở trong Koliyā.
4 Thi-nhiếp-hòa lâm 尸攝惒林. Pāli: Simsapavana.
5 Ba-la-lao Già-di-ni 波羅牢伽彌尼. Pāli: Pātaliya-gāminī thôn trưởng Pātaliya.