Chế độ nghiên cứu

Bản đọc Đối chiếu

Đối chiếu học thuật

Kinh Tạp A-hàm II · trang 10

Quay lại bản đọc

Bản chủ

Trang 10

Nội dung theo trang hỗ trợ định vị trong PDF chuẩn. Các thẻ đối chiếu, nếu có, chỉ là lớp citation đã duyệt và không thay thế bản chủ.

khởi tịnh tín, nắm lấy tướng tịnh.26 Sau khi khởi tín tâm thanh tịnh, nhớ nghĩ tướng tịnh rồi, tâm vị ấy sẽ khoan khoái; do tâm khoan khoái mà sinh hỷ. Do tâm hỷ nên thân khinh an. Sau khi thân khinh an, vị ấy sẽ được cảm thọ thân lạc. Sau khi cảm thọ thân lạc, tâm sẽ định.27 Với tâm định, Thánh đệ tử hãy họcđiều này: ‘Tôi đối với nghĩa này, nếu tâm còn phân tán ra ngoài, nên nhiếp phục khiến cho nó dừng nghỉ, không còn khởi tầm cấu và tứ sát.28 Không tầm, không tứ, an trụ lạc với xả và chánh niệm.29 Sau an trú lạc, biết như thật. Niệm xứ thọ, tâm, pháp cũng nói như vậy.” Phật nói kinh nầy xong, các Tỳ-kheo sau khi nghe lời Phật dạy, hoan hỷ phụng hành . KINH 586. TRÙ SỸ30 Tôi nghe như vầy: Một thời, Phật ở tại vườn Cấp Cô Độc, rừng rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo: “Hãy nắm chặt tướng tự tâm, chớ để phân tán ra ngoài. Vì sao? Nếu Tỳ-kheo ngu si, không hiểu biết rõ ràng,31 không khéo léo, không nắm lấy tuớng nội tâm, mà chạy theo tướng bên ngoài, Tỳ-kheo này sau đó sẽ bị thối giảm, và tự tạo ra chướng ngại. Giống như người đầu bếp ngu si nếu không hiểu biết, không khéo léo điều hòa các vị để phụng 26 Tham chiếu Pāli: tassa kāye kayānupassiṇo viharato kayārammaṇo vā uppajjati kāyasmiṃ pariḷāho, cetaso vā līnattaṃ, bahiddhā vā cittaṃ vikkhipati, tenānanda bhikkhunā kismiñcideva pasādanīye nimitte cittaṃ paṇidahitabbaṃ, “Vị ấy sống quán thân trên thân, hoặc sở duyên của thân khởi lên, hoặc có sự bức rức trong thân, hoặc tâm co tút, hoặc tâm tán loạn ra bên ngoài; Tỳ-kheo ấy hãy cố định tâm trên một ảnh tượng trong sáng nào đó.” 27 Sau khi trụ tâm trên tịnh tướng, tuần tự các trạng thái khởi lên: pamudita, duyệt (hân hoan), pīti, hỷ (khoan khoái), passaddhakāya, thân ỷ tức hay khinh an (cảm giác thân thể nhẹ nhàng), sukha, an lac, và cuối cùng samādhi, định. 28 Pāli: so paṭisaṃharati ceva na ca vitakketi na vicāreti, “Vị ấy khi nhiếp phục như vậy, không còn tầm cầu, không còn tư sát (trạng thái không tầm và không tứ). 29 Pāli: avitakkomhi avicāro, ajjhattaṃ satimā sukham ámī ti pajānāti, vị ấy biết rằng, tôi không tầm, không tứ, bên trong chánh niệm, an lạc. 30 Đại chánh, kinh 616 Người đầu bếp Pāli, S.47.8 Sūda. 31 Hán: bất biện 不辨 Pāli: avyatto, không thông minh, không năng lực.

Lớp đối chiếu

Chưa có bản chứng đã công bố

Không có dữ liệu nháp, nguồn thô hoặc kết quả tự động nào được thay thế cho quyết định biên tập.