Chế độ nghiên cứu

Bản đọc Đối chiếu

Đối chiếu học thuật

Kinh Tạp A-hàm I · trang 6

Quay lại bản đọc

Bản chủ

Trang 6

Nội dung theo trang hỗ trợ định vị trong PDF chuẩn. Các thẻ đối chiếu, nếu có, chỉ là lớp citation đã duyệt và không thay thế bản chủ.

phần ñầu quyển 17). Quốc Dịch, “Tụng iii. Nhân duyên, 3. Tương ưng Giới” phẩm 1 & 2, số kinh như Hội Biên của Ấn Thuận. Nơi quyển 23, kinh số 604, kể nhân duyên A-dục vương; ñược xem là tương ñương với “A-dục Vương Truyện” (ðại 50, No 2043), và “A-dục Vương Kinh” (ðại 50, No 2042). Quyển 25, kinh số 640, trong ñó Phật huyền ký về thời kỳ mạt pháp. Cũng trong quyển 25, kinh số 641, có ghi tiêu ñề “A-dục Vương Thí Bán A-ma-lặc Quả Nhân Duyên Kinh”. Rõ ràng ñây là 3 bản kinh phụ hội, không thuộc Tạp A-hàm. Theo Lương Tăng Hựu, “Xuất Tam Tạng Ký Tập”, quyển 2, Cầu-na-bạt-ñà-la, dịch giả của Tạp A-hàm, cũng có dịch một bản kinh có tiêu ñề là “Vô Ưu Vương Kinh”. Nhưng ñược biết kinh ñã thất truyền trong thời Tăng Hựu. Có thể người sao chép nhân cùng dịch giả nên chép chung luôn với Tạp A-hàm. Người sau không phân biệt, cho rằng kinh thuộc A-hàm. Trong “Tạp A-hàm Hội Biên”, Ấn Thuận loại bỏ 3 bản kinh này ra ngoài Tạp A-hàm. Quốc Dịch xếp chúng vào 2 quyển cuối cùng. Tóm lại, nếu loại trừ 3 kinh, số 604, 640, 641, ñược chép trong 2 quyển 23 và 25, số quyển của bản Hán dịch Tạp A-hàm chỉ còn lại là 48 quyển, thay vì 50 quyển, tổng số 1350, thay vì 1362. Trong bản dịch Việt, ngoại trừ 3 kinh phụ hội, tổng số kinh là 1360; vì thêm số 1017 mà trong bản Hán có kinh văn nhưng không ñánh số. Mặt khác, theo như bản Hán lưu hành hiện tại mà khoa mục không hoàn bị, chúng ta có thể biết trong hình thức nguyên thủy Tạp A-hàm có phân khoa mục thành các Tụng, và các tương ưng như Saṃyutta- nikāya hiện lưu hành. Do sự sao chép lưu truyền nên chương mục của kinh kinh bị xáo trộn. Nay, trong bản dịch Việt, cơ bản dựa trên khoa mục bị ñứt ñoạn của Kinh, tham khảo thêm các bản dịch và san ñịnh như Quốc dịch (Nhật bản), Phật quang ðại tạng (ðài loan), và Tạp A-hàm Hội biên của Ấn Thuận, toàn bộ kinh gồm 8 Tụng, 47 Tương ưng. Con số này tương ñối phù hợp với Samyutta-nikāya, theo ñó có 5 vagga, gồm 56 Samyutta. Mỗi tương ưng ñược chia thành nhiều phẩm. Mỗi phẩm trung bình trên dưới 10 kinh. Phân chia này chỉ xuất hiện trong bản Hán từ quyển 1 cho ñến quyển 4. Sau ñó, không còn thấy thường xuyen nữa. Quốc dịch vẫn tiếp tục phân thành phẩm cho toàn bộ Tạp A-hàm. Sự phân phẩm này xét ra phần lớn tùy tiện, chứ không có cơ sở nguyên thủy của kinh. Hội biên của

Lớp đối chiếu

Chưa có bản chứng đã công bố

Không có dữ liệu nháp, nguồn thô hoặc kết quả tự động nào được thay thế cho quyết định biên tập.