Bản chủ
Trang 8
Nội dung theo trang hỗ trợ định vị trong PDF chuẩn. Các thẻ đối chiếu, nếu có, chỉ là lớp citation đã duyệt và không thay thế bản chủ.
Lược sử truyền dịch
Phương đẳng kinh, Vị tằng hữu kinh, Thí dụ kinh, Ưu-
bà-đề-xá kinh, Cú nghĩa kinh, Ba-la-diên kinh, Tạp nan
kinh, Thánh kệ kinh; những kinh như vậy tập hợp thành
Tạp tạng.”5
Thứ tự bộ loại này hoàn toàn phù hợp với Pãli, gồm năm
tạng A-hàm tương đương năm bộ Nikăya.
Luật Ngũ phần6, thuộc Hóa địa bộ (Mahĩẩasãka), ghi
nhận thứ tự cũng tương tự, gồm năm tạng A-hàm, nhưng
trong đó có chi tiết không nhất trí, chỉ về hình thức kết
tập. Đại Ca-diếp hỏi A-nan câu hỏi đầu tiên: Phật thuyết
kinh Tăng nhất ở đâu? Kinh Tăng thập ở đâu? Tiếp đến,
kinh Đại nhân duyên, Tăng-kỳ-đà, Sa-môn quả... Do chi
tiết này mà nghi vấn được đặt thành, phải chăng theo đây
Tăng nhất A-hàm được kết tập trước tiên, rối mới đến
Trường A-hàm. Sự đảo lộn thứ tự như vậy tất do phát
triển về sau.7Nhưng nghi vấn này không hoàn toàn chính
xác. Vì tăng nhất đến tăng thập ở đây đều thuộc trong
Trường A-hàm, mà bản Hán dịch hiện tại vẫn còn thấy.
Pháp tạng và Hóa địa đều là những bộ phân nhánh từ
Thượng tọa bộ (Sthãvira) nên hệ thống Thánh điển
truyền thừa có thể gần nhất trí.
Thế nhưng, thứ tự được ghi nhận trong phẩm Tựa của
Tăng nhất A-hàm Hán dịch này đặt Tăng nhất lên hàng
đầu, và cũng được cho là trọng yếu nhất trong các bộ
Thánh điên. Theo ý kiên phân đông các nhà nghiên cứu,
Tăng nhất A-hàm Hán dịch thuộc Đại chúng bộ
5 Tứ phần luật quyển 54, T22 tr. 968b.
6 Ngũ phần luật quyển 30, T 22 tr. 191al5.
7 Lâm Sùng An, sách dẫn trên.
9