Bản chủ
Trang 12
Nội dung theo trang hỗ trợ định vị trong PDF chuẩn. Các thẻ đối chiếu, nếu có, chỉ là lớp citation đã duyệt và không thay thế bản chủ.
Lược sử truyền dịch
xuất hiện, tranh luận về giáo nghĩa, vẫn dẫn bốn nguyên
lý này để chứng minh quan điểm chính thống của mình,
nhắm loại bỏ những kinh nào mà bộ phái mình không
tụng đọc.17 Hóa ra, trong lịch sử phát triên giáo nghĩa,
chưa một vị đại luận sư nào được tuyệt đối thừa nhận là
đã vượt ra ngoài ảnh hưởng truyền thống và thời đại của
minh để thông đạt Phật ngôn một cách như thực.
Cho nên, yêu cầu một hệ thống hoàn chỉnh cho toàn bộ
Phật ngôn thật vô cùng quan trọng. Cũng như không cần
phải uống cạn hết nước trong mọi con sông mới có thể
biết được vị của của nó. Tính hệ thống đối với toàn bộ
Phật ngôn cũng vậy.
Nói tính hệ thống, tức là nhu cầu tập hợp tất cả Phật ngôn
thành một hệ thống mạch lạc, hoàn chỉnh; trong đó các
bộ phận giáo nghĩa quan hệ với nhau một cách nhất quán,
nhờ vậy mà có thể có nhận thức căn bản và phổ quát về
giáo nghĩa, mà cũng nhờ vậy mà có thể ghi nhớ và truyền
tụng. Đây không đơn giản chỉ là vấn đề nẹhe học, ghi
nhớ và thấu hiểu Phật ngôn, mà còn là vấn đề duy trì tính
thống nhất và chính thống của giáo nghĩa. Hai yêu cầu
căn bản này tuy đã được đề cập nhiều lần bởi chính đức
Phật, cũng như các đại đệ tử trong thời Phật tại thế,
nhưng không được duy trì nguyên vẹn trong dòng lịch sử,
bởi áp lực thời đại và địa lý.
Trong 45 năm liên tục thuyết pháp, cho đủ mọi thành
phần xã hội, những đề tài được nhắc đến trong Phật ngôn
thật vô cùng đa dạng, vượt ngoài khả năng tư duy của
luận 5 (T 1636) ^'fÊcl£!ft$Ể/Sllt;Ả;Ì$Ề bất y thời thuyết cập quảng
đại thuyết.
17 Có thể thấy điều này xảy ra rất nhiều nơi trong Thuận chính lý,
khi một số kinh mà Hữu bộ dẫn chứng không được thừa nhận bởi
Thế Thân, hay các bộ khác như Kinh bộ, Thí dụ bộ...
13