Chế độ nghiên cứu

Bản đọc Đối chiếu

Đối chiếu học thuật

Kinh Tăng nhất A-hàm I · trang 12

Quay lại bản đọc

Bản chủ

Trang 12

Nội dung theo trang hỗ trợ định vị trong PDF chuẩn. Các thẻ đối chiếu, nếu có, chỉ là lớp citation đã duyệt và không thay thế bản chủ.

Phẩm tựa 9 “Như vậy hư dối đời tương lai. “Nay các kinh xưng: Tôi nghe như vầy, “Phật trú thành nào, quốc thổ nào? “Lần đầu nói pháp: Ba-la-nại. “Độ ba Ca-diếp: Ma-kiệt-đà. “Câu-tát, Ca-thi, giữa Thích tộc, “Chiêm-ba, Câu-lưu, Tỳ-xá-ly, “Cung Trời, cung Rồng, A-tu-la, “Cung Kiền-đạp-hòa, thành Câu-thi; “Giả sử không rõ nơi nói kinh, “Thì nói nguyên gốc tại Xá-vệ. “Việc ấy, một thời tôi đã nghe, “Phật tại Xá-vệ cùng đệ tử; “Tinh xá Kỳ-hoàn, tu thiện nghiệp, “Vườn Cấp Cô Độc Trưởng giả cúng. “Khi Phật ở đây, bảo Tỳ-kheo: “Nên chuyên tâm tu tập một pháp, “Tư duy một pháp, không buông lung, “Sao gọi một pháp? Là niệm Phật; “Niệm Pháp, niệm Tăng cùng niệm giới, “Niệm thí, niệm Thiên, trừ loạn tưởng. “An-ban hơi thở, và niệm thân, “Niệm chết trừ loạn, tổng mười niệm. “Đó pháp mười niệm, có thêm mười, “Tiếp theo, lại nói Tôn đệ tử: “Trước độ Câu-lân9 con trưởng Phật, “Người nhỏ cuối cùng là Tu-bạt.10 “Dùng phương tiện này hiểu một pháp. “Hai từ hai pháp, ba từ ba. “Bốn, năm, sáu, bảy, tám, chín, mười, 9 Câu-lân 拘鄰: Kiều-trần-như. Pāli: Koṇḍañña. 10 Tu-bạt 須拔. Pl.: Subhadaparibbājaka, ngoại đạo xuất gia Subhada. Vịđệ tử cuối cùng. Xem Trường, No 1(2).

Lớp đối chiếu

Chưa có bản chứng đã công bố

Không có dữ liệu nháp, nguồn thô hoặc kết quả tự động nào được thay thế cho quyết định biên tập.